Trang

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Ru Mình





À ơi đêm trắng năm canh
Ru mình tỉnh giấc mơ lành ngày xưa

Ngày xưa anh đón anh đưa
Lối ngang ngõ tắt nắng mưa mặc lòng
Ngày xưa môi thắm má hồng
Mải nghe anh hát mà lòng em say
Ngày xưa da trắng tóc dài
Lung liêng vành nón chép đầy thơ anh
Mắt hồ thu sáng long lanh
Lỡ soi đáy ngọc làm anh thẫn thờ
Để em ngơ ngẩn, ngẩn ngơ
Để cho bà Nguyệt ông Tơ giăng mành

Ước gì đêm chẳng tàn canh
À ơi ru mãi giấc lành ngày xưa…

Nha Trang - 2005

Nỗi đau

                                                                                   
                                                                                 Truyện ngắn của : Minh Hương

            Ùng! Oàng!… Tiếng trẻ khóc thét. Ông Tư đưa tay ôm ngang bụng. “Mình bị thương rồi!”. Cảm giác đau xoáy vào ruột ông. Lại tiếng trẻ khóc thét. “Nó vẫn còn khóc, còn khóc được!”. Ông càng ôm chặt bụng hơn vì đau quá. “Bị thương sao không có máu?”. Ông muốn hét lên nhưng không được, có cái gì đó đè nặng lên người ông.Vẫn tiếng trẻ con ré lên ngằn ngặt. Ông lấy hết sức cố đạp hai chân, miệng há thật to cho đến khi từ trong cổ họng bật ra hai tiếng khản đục: “Không! Không!” mới thấy người nhẹ bỗng. Nhưng sao thế nhỉ? Tất cả là một màu trắng lạnh lẽo. Ông chợt tỉnh: “Ồ! Bệnh viện… Thế là mình lại vừa mộng mị.
            Đưa hai tay lên ôm đầu, ông rên rỉ: “Trời ơi! Những ác mộng sao cứ ám ảnh ta?”. Cơn đau dữ dội lại xoáy vào ruột khiến toàn thân ông co quắp, quằn quại. Vậy mà trong cơn ác mộng vừa rồi, ông ngỡ mình bị thương. Từ khoa nhi của bệnh viện vọng lên tiếng khóc của con nít làm ông càng co dúm người lại. Ông nhớ đến nó. Nhưng mà ở cái thời khắc nghiệt ngã ấy, nó có được khóc đâu! Dẫu biết rằng không bao giờ nó còn khóc được để ông cũng như cả sự sống trên trái đất này còn được nghe tiếng khóc của nó …
            Từ khi biết mình bị ung thư dạ dày đang ở giai đoạn cuối, ông Tư thường hay hồi tưởng lại những năm tháng chiến tranh, lúc còn ở rừng. Những cảnh thương vong, chết chóc, bom đạn, chất độc… cứ hiện về, đan xen với thực tại. Ông vừa phải chống chịu sự đau đớn về thể xác do con bệnh hiểm nghèo, vừa luôn bị nỗi ám ảnh bởi những cơn ác mộng. Khi tỉnh, ông vẫn rất tự hào về chiến thắng vĩ đại của Dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ và ông đã đóng góp hết sức mình cho sự nghiệp vẻ vang đó. Ông vẫn thường và sẽ còn nói lại với nhiều người, nhất là với lớp trẻ về niềm tự hào ấy … Nhưng khi ngủ, ông luôn bị những ám ảnh bởi nỗi kinh hoàng, đau xót về một điều mà ông biết, cho đến chết vẫn không thể nguôi ngoai và cũng không dễ gì nói được cùng ai.
            Không còn chịu nổi cơn đau, ông bấm chuông lên phòng trực. Cô y tá xuống tiêm cho ông một mũi thuốc, cơn đau dịu dần, ông thấy mình mệt lả. Nghĩ đến những cơn đau sẽ còn sau đó, ông rùng mình nhắm nghiền mắt lại. Hồi đó, sau mỗi lần máy bay địch rải chất độc vừa rút khỏi là ông cùng mọi người ào ra nương mỳ, bất chấp cả những hạt bụi thuốc còn bám đầy trên cây lá. Dù sợ chất độc nhưng vẫn phải cứu những củ mỳ, nếu không sẽ không có gì để ăn. Phải chặt thật nhanh ngang cây, chỉ để lại những gốc mỳ để thuốc không kịp dẫn xuống củ. Sau đó mới nhổ lên, ngâm, phơi, làm lương thực dự trữ. Những lần như thế, không phải riêng ông mà hầu như tất cả, không ai lường được hậu quả khủng khiếp của thứ chất độc màu vàng nguy hiểm ấy. Gần hai mươi năm sau ngày giải phóng, đã không ít người từng là bộ đội, cán bộ ở rừng về phải từ giã cõi đời trong sự đau đớn, vật vã về thể xác mà trí óc thì hoàn toàn tỉnh táo vì bị khối u ác tính. Nhiều người khác lại gánh chịu số phận khổ đau đến cùng cực, đó là phải làm cha, làm mẹ của những đứa trẻ dị dạng, tật nguyền, ngớ ngẩn, những quái thai không thể tồn tại ở trên đời. Bây giờ thì đến lượt ông …
            Có tiếng ì ầm từ xa của cơn giông. Hừ! Thế mà ông lại nghe ra tiếng ùng oàng của đạn pháo. Ông nhìn ra ngoài, một tia chớp loằng ngoằng chạy ngang trên bầu trời đang sầm sập tối. Hồi ở rừng, một tối nọ, dưới ánh sáng lóa lên như tia chớp của đạn pháo sáng, ông vô tình nhìn thấy sự quấn quýt bên nhau của đôi trai gái bên gốc cây gần lán trại. Lúc ấy ông đã cười một mình: “Quả là tình yêu bất diệt”. Sau đó, họ cưới nhau, người con trai được bổ sung cho đơn vị chủ lực, còn vợ anh ở lại trạm giao liên của ông. Một thằng cu ra đời theo quy luật của tạo hóa, bất chấp bom rơi lửa đạn. Nó được đặt tên là Chiến Thắng, như niềm tin và sự mong mỏi của ba má nó cùng mọi người.
            Ông Tư cố đứng dậy, chập choạng từng bước đến bên cửa sổ vì lại nghe tiếng trẻ khóc thét. Ông nhìn xuống khoa nhi, nơi có những đứa trẻ đau bệnh đang điều trị ở đó. Ruột gan ông nhói buốt như có ngàn mũi kim châm chích. Ông nhớ đến cái bụng cóc vì bị lãi của nó, những cơn sốt rét rừng làm mắt nó trắng xác, đôi môi nhỏ xúi, tái nhợt. Chẳng có thuốc gì ngoài mấy viên ký ninh, thế mà nó vẫn sống… Ông thấy môi mình mặn đắng. Ừ! Nếu ông có thể gào lên, khóc thét lên như con trẻ để nỗi đau trong ông sẽ dịu đi chăng? Giá như bây giờ ông có thể nói ra được những dày vò, giằng xé về những uẩn khúc oái oăm, oan  nghiệt trong một lần chỉ huy của ông. Ông thắc thỏm chờ bà Tư, sao mãi không thấy về. Ông định quyay lại giường nằm nhưng không làm sao có thể nhấc chân lên được, cả người cứ run lên bần bật. Ông khụy xuống và…
                                                                        *   *   *

            Đã khuya, bà Tư chưa ngủ. Bà ngồi trên chiếc ghế bố cạnh giường nằm của ông, dạ nôn nao. Bà cứ nhìn mãi vào khuôn mặt hốc hác, tấm thân chỉ còn da bọc xương của ông, tim bà thắt lại. Hai ngày nay, thần sắc của ông thay đổi quá nhiều. Đã vậy, chiều nay ông cứ nằng nặc đòi bà phải đi đến nhà Ba má nó chỉ để biết có một việc ấy. Bà đi mà chẳng yên lòng chút nào. Bà đã dặn ông không được đi đâu xa giường, mọi thứ bà đã chuẩn bị sẵn, thế mà ông lại ra cửa sổ làm gì, may mà bà về kịp…
            Hơn ba tháng rồi, bà kề cận bên ông không rời một bước. Thỉnh thởng có ai đến thăm, ngồi chơi nói chuyện lâu, bà mới gửi gắm để về thăm qua nhà. Ông bà chẳng còn ai đỡ đần, họ hàng ly tán hồi chiến tranh, đứa con trai duy nhất của ông bà cũng chết từ nhỏ. Sau giải phóng ông về, bà không còn sinh nở được nữa, vợ chồng già chăm chút nhau hết tình vẫn không khỏi có lúc xót xa tủi phận.
Tiếng thở đều đều của ông làm lòng bà phần nào dịu lại. Cái mệt do phải đi lại vội vàng lúc chiều, bây giờ mới ngấm vào tấm thân già gầy guộc làm bà lịm vào giấc ngủ. Một tay bà vẫn nắm chặt vào tay ông, phòng khi ông dậy là bà biết ngay…
Ông giật mình tỉnh giấc, nửa người từ thắt lưng trở xuống nặng trĩu, hai chân không thể co duỗi được. Cả hai tay cũng vậy, hình như lạnh lắm và cũng không còn có cảm giác, vì ông nhìn thấy bàn tay bà đang nắm chặt tay ông mà không đủ sức để lắc cho bà biết. Ông muốn nói chuyện với bà. Nhìn khuôn mặt đã quá nhăn nheo vì tuổi già lại hằn sâu nỗi lo âu vì mình, ông thấy nhói buốt ở ngực. Ông biết mình sắp phải ra đi mãi mãi, để lại một mình bà như chiếc lá đã úa vàng lắt lay trước gió, cũng chẳng biết sẽ lìa cành lúc nào. Đó chính là điều níu giữ  ông cứ ôm mãi niềm tâm sự, âm thầm chịu đựng nỗi đau, không thổ lộ với bà. Ông không muốn những ngày cuối đời cô đơn của bà phải gánh thêm một nỗi đau nào nữa. Ông chắc bà vừa chợp mắt. Thôi! Cứ coi như bà đang thức, đang nghe ông nói. Như thế có lẽ lại hay hơn. Ông vẫn có người để dãi bày mà bà thì … Hình như cái lưỡi cũng không muốn theo sự  điều khiển của ông nữa. Tuy vậy, ông vẫn thều thào, môi gần như không còn mấp máy. Ký ức về buổi chiều nghiệt ngã ấy đang hiện lại mồn một trong ông.
“Chiều chập choạng đổ ập xuống bao trùm cả cánh rừng. Nhằm phía bờ sông, họ tiếp tục vạch cỏ tranh tìm lối thoát. Mười ba ngày lánh càn, luồn lách trong rừng, lương thực, nước uống đều đã cạn. Mọi người đều quá mệt, họ lặng lẽ bám sát nhau mà đi. Mùi thuốc lá thơm làm người đi đầu khựng lại: “Có địch!”. Cứ như vậy, người trước nói thật nhỏ cho người sau. Mọi người dồn lên, ẩn trong thung lũng cỏ tranh ngập lút đầu. Họ nhìn thấy bọn địch lố nhố ngay trên đầu dốc, ai nấy đều như nín thở vì giữa đám cỏ tranh trống hoác mà chúng không phát hiện ra. Hình như chúng cũng đã quá mệt mỏi. Thực hiện “Chiến lược chiến tranh đặc biệt”, Mỹ tập trung đánh vào các khu căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. Đợt càn lên Khánh Sơn lần này của chúng với trên một ngàn quân được trang bị vũ khí tối tân, cũng lại vấp phải sự đối phó khôn khéo của ta. Để bảo toàn lực lượng, địch dàn quân đến đâu ta rút vào rừng đến đó. Núi rừng hiểm trở lại không quen địa hình làm cho địch gặp không ít khó khăn…
Trời càng tối dần, bóng đêm loang ra như bức màn vô hình che chắn cho họ. Đành phải chờ đêm xuống khi địch đã ngủ mới có thể rút ra phía bờ sông. Trong đêm tối, tiếng xì xà xì xồ, những đốm lửa thuốc lá lóe lên ngay trên đầu dốc càng làm cho họ thấy địch đang ở gần hơn. Một tiếng động nhỏ cũng làm ai nấy giật thót mình. Nhưng làm sao có thể đảm bảo giữ được im lặng? Sự có mặt của nó, một đứa trẻ lên hai làm cho tất cả mọi người càng lo lắng. Chỉ một tiếng ọ-ẹ vô thức của nó là có thể đổi hết mạng của cả đoàn. Người mẹ cố ôm  chặt con vào lòng, giữ cho nó một trạng thái yên ổn nhất trong giấc ngủ lịm đi vì đói. Chị tìm cách thoát riêng cho hai mẹ con để giữ an toàn cho cả đoàn nhưng không thể, chỉ một dấu hiệu khác thường là hàng loạt đạn sẽ đổ xuống thung lũng này.
Tiếng chân quẫy đạp cùng tiếng “hự! Hự!”  trong cổ họng của thằng bé làm tất cả  hoảng hốt. Tức thì có nhiều bàn tay chồm tới lắc mạnh lên vai, lên tay, lên cả chân ông. Họ sợ thằng nhỏ khóc lớn. Anh mắt của họ lúc chiều đã ngầm nhắc ông về nó làm đầu ông căng ra. Ông bấm bụng: “Ráng thêm chút nữa đi nhỏ, sắp nửa đêm rồi…”. Suốt từ chặp tối đến giờ, trong đầu ông cứ lặp đi lặp lại sự  giằng co: “Không được!- Phải thế!”, “Không được!- Phải thế”…”. Tính mạng của mấy chục con người và sự  sống của nó phải đưa lên bàn cân và ông là người quyết định… Oi! Nếu không vì mục tiêu bảo toàn lực lưọng của trận chống càn này, nếu được có vũ khí trong tay…
            Tiếng quẫy đạp giãy dụa của thằng nhỏ lại dội lên mạnh hơn, những bàn tay bám lên vai, lên tay ông cũng lắc mạnh hơn. Cổ họng ông bật ra một tiếng nói thầm khô khốc: “Phải thế!”… Ai cũng hiểu đó là mệnh lệnh, và…
            Người ta nghe những tiếng thở bật ra vì bị kìm nén. Sau đó là sự im lặng rùng rợn. Đúng hơn, đó là sự chết lặng!? Hay là cái gì nữa?… Không ai còn đủ tĩnh tâm để phân định thời khắc đó. Một sự sống nhỏ nhoi thăng hoa vào cõi vĩnh hằng để tồn tại nhiều sự sống khác mạnh mẽ hơn, cần thiết hơn cho cuộc chiến. Cái lý là như vậy!
            Không có tiếng thét gào xé lòng của người mẹ mất con, không có sự vật vã, lăn lộn, không có sự giằng lại đứa con đang bị cướp khỏi tay mình. Người mẹ chỉ còn là cái xác không hồn. Nó được trả về tay mẹ khi người đã mềm oặt. Chị ôm chặt nó vào lòng rồi ngất lịm …
            Cho đến bây giờ, ông cũng không biết rõ ai là người trực tiếp thi hành mệnh lệnh của ông hôm ấy, và nó đã phải lìa đời một cách oan nghiệt như thế nào. Chỉ biết: Nó bị ngạt thở mà chết… Ông không thể và không muốn biết gì hơn nữa, chỉ chừng đó đã làm ông quá đau khổ, nỗi đau thấm đến tận cùng gan ruột, ngày càng nhức nhối, âm ỉ trong ông theo thời gian dù sự sống xung quanh đang hồi sinh, dấu vết chiến tranh đang nhòa dần … Sau trận càn ấy, cũng như ông, không ai muốn nhắc lại chuyện này. Tất cả họ và cả ông đều tự an ủi, xoa dịu mình: Đó là một sự hy sinh… Còn mẹ nó, phải đến cả năm như người dở điên dở dại… Ôi! Chiến tranh! Dù có biết, người ta cũng không thể lường được hết sự hủy diệt tàn khốc của nó. Để chiến thắng, người ta phải chấp nhận mọi đau thương, mất mát, chấp nhận mọi sự hy sinh … Vẫn biết thế! nhưng với ông, nỗi đau về sự hy sinh của nó, trong sâu thẳm trái tim ông không cho phép được chấp nhận, được tự hào mà ngược lại, đó là một món nợ không bao giờ trả được …
            Tiếng chuông đổ dài vọng từ một nhà thờ gần đó làm bà Tư  tỉnh giấc. Bà hốt hoảng vì thấy tay ông lạnh ngắt.
            - Ông Tư! Ông Tư  ơi! Trời ơi! …
            Ông từ từ mở mắt, ánh mắt lờ đờ vụt lóe sáng lên khi bắt gặp khuôn mặt đang dàn dụa nước mắt của bà. Ánh mắt như ngọn đèn vụt sáng trước khi tắt vừa muốn thu nhận tất cả hình ảnh của bà, vừa như còn muốn hỏi bà một điều? Bà chợt hiểu, vội cúi sát vào tai ông:
            - Bà giám đốc Sở thương binh xã hội nói rằng, còn chờ ý kiến trả lời của Bộ.
            Mắt ông vụt tối sẫm, đờ đẫn, vô định, hai hốc mắt sâu hoắm đọng đầy nước mắt. Miệng ông mấp máy nhưng bà không nghe được, rồi bất chợt ông bật lên nói từng tiếng ngắt quãng nhưng rất rõ ràng:
            - Tôi đã đợi quyết định của … về sự hy sinh của thằng Chiến Thắng gần hai mươi năm rồi, từ sau ngày giải phóng mà vẫn … Bây giờ tôi không thể … Một ngày nào đó … Bà nhớ báo cho tôi …
                                                                            * * *

            Vào một buổi chiều cuối tháng 7 năm 1996, khi ánh nắng đã nhạt màu, cái nóng như nung, hầm hập của mặt đất dần dần dịu lại. Trước mộ ông Tư, bà Tư vừa cắm nén nhang vừa lẩm nhẩm :
- Ông à! Bộ Lao Động thương binh xã hội người ta đã trả lời, thằng Chiến Thắng không được công nhận là liệt sĩ vì khi chết chưa đến tuổi thành niên. Tuy vậy, từ nay gia đình nó sẽ được hưởng ưu đãi của chính quyền địa phương như đối với các gia đình chính sách khác …
Gió đồi xào xạc tràn xuống nghĩa trang, thổi bạt tàn làm lộ rõ những đốm lửa đỏ rực trên đầu những cây nhang, khói lên ngùn ngụt rồi phật thành ngọn lửa xào xào, ràn rạt … bà Tư vội quỳ xuống, hai tay run rẩy chắp trước ngực;
- Ông ơi! Ông ơi! Ông có sống khôn thác thiêng thì phù hộ độ trì cho tôi sớm được gặp ông để có bầu có bạn, khỏi phải âm dương cách trở. Đã hơn ba năm rồi, tôi cố sống vì lời dặn của ông. Hôm nay tôi đã làm tròn lời hứa với ông … Nỗi đau của ông nơi chín suối cũng là nỗi đau của tôi, của hết thảy những Con Người … song biết làm sao được, cái lý là như vậy!…
Hoàng hôn xuống dần, bà Tư thắp thêm một nén nhang lên mộ ông rồi ra về. Bóng bà liêu xiêu, đôi vai gầy đổ về phía trước. Tà áo dài của bà nhẹ bay theo chiều gió như những áng mây màu tím phía cuối trời đang cuộn vào lòng đất.
                                                                                                                                                                                       Nha Trang
15/3/99
           

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

CHIỀU MƯA



                                                         Truyện ngắn: Minh Hương

Dựng chiếc xe máy vào góc nhà, để chiếc cặp giáo án lên bàn, Thanh bước đến trước gương đưa tay vén lại mái tóc bị gió lùa lòa xòa trước trán cho thành nếp, cô mỉm cười với mình. Dường như không cảm nhận được điều gì từ khuôn mặt phờ phạc trong gương, Thanh cố mỉm cười một lần nữa, nhưng chẳng có gì vui vẻ hơn bởi đôi mắt cứ rười rượi kia. Thở dài đánh thượt, cô quay lại xách giỏ thức ăn chiều xuống bếp và nhớ lời Tiến thường nói: “Mắt em buồn như chiều mưa”.
Nghe tiếng động biết mẹ về, hai chị em Tuyết - Tùng đang xem ti vi trên gác vội ào xuống tranh nhau  khoe:
- Mẹ ơi! Có thư ba.
Thằng Tùng láu táu chạy chạy lên phòng khách cầm thư xuống.
- Chúng con chưa bóc thư đâu, đợi mẹ về đấy!
Thấy mẹ không tỏ vẻ vui mừng gì, hai đứa nhỏ xìu xuống. Không đành lòng, Thanh cầm thư bóc ra.                   
          - Thư ba gửi cho các con đây, mang lên nhà đọc, còn thư của me, tối mẹ đọc.
Trên nhà vọng xuống tiếng hai đứa trẻ:
- Tùng để chị đọc, cả hai chị em mình cùng nghe!
- Ứ ừ, em đọc trước cơ, chị đọc một tí chị lại khóc nhè, em ứ chịu đâu!
- …
Thanh thở dài, bần thần nghĩ lung bung, nước sôi gần cạn mới nhớ là chưa cho rau vào luộc, nồi thịt kho nghe mùi khét mới giật mình bắc xuống. Bưng mâm cơm lên lại thấy bé Tuyết đang úp mặt vào tường thổn thức. Thằng Tùng đang ngồi so trên ghế vội sà đến bên Thanh nhỏ nhẹ:
- Mẹ ơi! Ba sẽ về đón chúng con sang Tiệp nhưng tết này ba chưa về được.
Thanh gật đầu:
- Chắc ba bận, nếu không ba sẽ về.
Tùng nhào vào lòng Thanh, vòng tay qua cổ mẹ thì thầm:
- Ba viết ở cuối thư là: Các con thơm mẹ cho ba…
Thanh ôm Tùng vào lòng thơm lên má nó.
- Con gọi chị Tuyết dậy ăn cơm…
Hôm sau, Thanh nằm bệt gần như hết ngày. Lần trước cũng vậy, thư Tiến gửi về, sau khi đọc cô thấy người bải hoải, váng vất. Nằm đến xế chiều, sau khi uống ly sữa, cô trở dậy đi lại dọn dẹp trong nhà cho khuây khỏa. Có tiếng gõ cửa, Tùng chạy ra.
- A! Chào chú Ngọc, sao chú biết mẹ cháu ốm mà đến thăm?
- Thế mới gọi là chú Ngọc chứ, chú thơm cháu một cái nào. Có quà cho các cháu đây: tập truyện tranh này cháu thích không? Còn bộ xếp hình cô tiên là của chị Tuyết.
- Cháu cảm ơn chú Ngọc.
Tùng ôm quà chạy lên gác với chị. Ngọc quay lại, Thanh đang ngồi trên ghế. Mặt cô nhợt nhạt, đôi mắt buồn sâu thẳm nhưng vẫn gợi lại những nét thanh tú, huyền thục trên khuôn mặt.
- Sao đó Thanh?
- Em hơi mệt, sao anh biết mà đến?
- Vừa bước vào nhà nghe cu Tùng hỏi thế nên bịp nó vậy chứ anh có biết gì đâu. Cũng lâu, hôm nay anh mới lại thăm mẹ con em. Tiến có gửi thư về không?
- Hôm qua mới nhận được thư, em buồn quá.
- Anh biết thế nào em cũng nói vậy, thế mà bạn bè rủ đi chơi em có chịu đâu. Đừng tự hành hạ mình như thế, ở bên ấy Tiến tự do chơi bời hết bồ này đến bồ nọ, biền biệt hai ba năm mới về một lần. Đã vậy, cả năm mới viết về nhà có vài lá thư. Anh sợ Tiến không muốn về Việt Nam nữa kìa. Còn em, định  làm đá vọng phu thời này chắc?
- Anh nói đúng, thư anh ấy nói sẽ về bán nhà để trả nợ, lấy vốn làm ăn  lại từ đầu rồi đón mẹ con em sang ấy…
- Em tin thế à? Vậy lỡ bán nhà xong làm ăn lại thua lỗ, nợ nần thì em nghĩ sao? Lúc ấy liệu Tiến có thể đón mẹ con em sang đó không?
          - Em không biết mình có tin nữa không, gần mười năm qua những lời hứa của Tiến với em đã quá nhiều. Có điều, chính em cũng muốn bán nhà này, đổi nhà khác nhỏ hơn để ở, vốn còn lại vợ chồng tìm cách làm ăn ngay tại thành phố này. Chỉ ngại Tiến không chịu về …
          - Tiến sẽ không chịu vì theo cậu ấy phải bán nhà để trả nợ mà. Mấy năm nay Tiến có gửi về  cho mẹ con em đồng nào đâu, may còn có tiền cho thuê nhà, nếu không lấy gì sinh sống. Thôi, đừng nói chuyện  này nữa, ta đi dạo một lúc cho khuây khỏa, em cứ thu mình trong nhà như thế này không được đâu.
          Ngọc cầm tay Thanh kéo cô đứng dậy, hơi thở của anh làm mặt cô nóng bừng. Thanh muốn ngã hẳn vào vòng tay của anh, nhưng cô đã gắng rút được tay mình ra khỏi bàn tay đang nắm chặt của anh và ngã ngồi xuống ghế. Không để Ngọc kịp buông lời trách, vừa thở Thanh vừa nói:
- Anh Ngọc, anh là bạn của Tiến, em mong anh hiểu … Được anh thường đến thăm thế này là mẹ con em đỡ buồn nhiều lắm rồi. Bọn trẻ càng lớn càng không thích mẹ chúng đi chơi với đàn ông. Thấy ai có vẻ áy náy cho hoàn cảnh của mẹ khi nhắc đến ba là chúng tỏ vẻ khó chịu, như vậy là nói xấu ba của chúng. Còn em bây giờ như người vô cảm, chẳng muốn định đoạt cái gì. Tuy vậy em vẫn phải mong và hy vọng Tiến sẽ về…
          Thanh lật quyển sổ trên bàn đưa cho Ngọc lá thư đang viết dở, nhoè nước mắt của con Tuyết gửi ba nó: “Ba ơi! Bầu trời thật là mênh mông nhưng ở đâu cũng có, còn ba của con thì chỉ có một mà thôi. Hàng trăm phép nhiệm màu của các bà tiên cũng không làm sao đếm hết được nỗi nhớ và tình thương của chúng con với ba đâu. Tại sao ba không về với mẹ và chúng con như ba của các bạn hở ba?…” Ngọc nhìn sâu vào mắt Thanh:
-Anh hiểu! Rất hiểu! Song dù vậy, anh vẫn thấy hy vọng của em thật mong manh …
           Sau khi cánh cửa khép lại, còn lại một mình, Thanh ngồi lặng trong nỗi suy tư không dứt. Cô nhìn lại khắp lượt trong nhà: cũng xe máy, tivi màu, máy catset, tủ lạnh, máy giặt … Đâu đến nỗi nào! Và hơn tất cả là có ba mẹ con Thanh đang sống. Vậy mà Tiến lại cho rằng giờ đây anh chỉ còn “cái nhà rỗng tuyếch cần phải bán”. Phải chăng đó là lý do cuối cùng để anh cắt luôn sợi dây ràng buộc hờ hững của anh với gia đình hiện nay? Vậy mà trong thư Tiến còn viết: “… Chẳng lẽ, một người vì miếng cơm manh áo cho gia đình, phải sống tha phương nơi xứ người như anh lại mất quyền được nhận tiếng gọi “Ba” của các con mình hay sao?…”. Cô rất muốn tin đó là nguyện vọng thiết tha của anh cũng như muốn được chia sẻ với anh những khó khăn thua lỗ trong việc làm ăn buôn bán ở bên ấy như anh vẫn thường nói. Còn những đồn đại khác về Tiến từ bạn bè thì sao? Cô không muốn nghe và không muốn tin. Làm sao cô có thể quên những năm tháng đã từng sống bên anh, được anh yêu thương, chăm sóc. Nhưng tất cả những điều muốn và không muốn ấy chỉ là theo ước vọng của cô, còn sự thật làm sao có thể biết chắc chắn khi cô đang ở cách xa Tiến một phần tư trái đất… Trời ơi! Nếu như ngày ấy cô đừng quá giản đơn cho rằng hạnh phúc và giàu có là một thì giờ đây cô đâu phải đau khổ, day dứt…


Thanh đến bên cửa sổ. Trời đang mưa sụt sùi. Phố xá vắng vẻ, chỉ có hàng cây bên đường đang lặng lẽ đầm mình dưới mưa. Những chiếc lá bàng như những bàn tay xòe ra đón những hạt mưa li ti, rồi rả ríc thả xuống vạt nước đọng dưới gốc cây. Những bong bóng nước trong veo lừ lừ đuổi nhau hết lớp này đến lớp khác, để sau đó chỉ trong tít tắc tất cả đều tan ra thành nước … Thanh cứ nhìn xoáy vào những bong bóng nước ấy và chợt nghĩ: chẳng lẽ hạnh phúc mà cô và Tiến hằng mơ tưởng, đuổi bắt cũng chỉ là những bong bóng giọt mưa kia thôi sao? Tim Thanh lại nhói lên bởi câu hỏi của con Tuyết trong lá thư viết dở: “Tại sao ba không về với mẹ và chúng con …”. Cũng đã lâu, cô thường không trả lời mỗi lần nhận thư Tiến, cô muốn phó mặc buông xuôi tất cả. Nhưng giờ đây, vì các con của mình cô sẽ lại viết thư gọi ba của chúng trở về dù biết đó là một hy vọng mong manh. Thanh quay vào bàn lấy giấy bút ra, một ý nghĩ chợt đến: Thật lạ! Những bong bóng nước vô tình kia lại đem đến cho mình một ý nghĩ sâu sa… , hơn thế nữa cô vẫn tin Tiến sẽ trở về. Đôi mắt “buồn như chiều mưa” của Thanh chảy dài những giọt lệ như muốn cùng tuôn chảy với muôn ngàn hạt mưa đang xối xả trong cơn mưa chiều nay.

                                                                             Nha Trang - 1997

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

THUỞ BAN ĐẦU



Mới đó mà đã gần 37 năm.
Ôi! thời gian...




Nói với em
Khi anh nhìn vào mắt em:
Đôi mắt em đen tròn long lanh…
Đôi mắt ấy nhìn anh
Im lặng!
Và tiếng gió khẽ lướt qua vòm lá
Và những hạt mưa xuân
Nhẹ nhàng đọng trên đôi má
Đôi má em đỏ hồng
Và những gì nghe rất trong, rất trong
Không phải tiếng anh, cũng không phải tiếng em,
mà sao gần thể nhỉ!?

Đâu phải mối tình nào cũng bắt đầu từ một đêm trăng sao.
Đâu phải mối tình nào cũng bắt đầu bằng những lới ngọt lịm.
Nhưng khi người ta yêu nhau
Thì tất cả đều trở nên rạng rỡ
Thì tất cả đều trở thành đẹp quá
Cho dù đêm đầy mây
Cho dù mưa bay
Cho dù gió thổi
Và chẳng lời ngọt lịm nào sánh nổi
Phút lặng im giữa hai đứa chúng mình.
Anh không nhìn thấy anh
Chỉ nhìn thấy em
Em chẳng nhìn thấy em
Chỉ nhìn thấy anh
Cứ nhìn vào mắt nhau
Là thấy được bóng dáng mình trong đó

Đứng trước nhau em ơi!
Hãy biết làm ngọn lửa
Của tình yêu và của cuộc đời
cháy cho bây giờ, cháy cho tương lai
Cháy cho ngắn lại tháng ngày chờ đợi
Và tóc em vẫn dài như buổi đầu con gái
Và anh vẫn yêu đời cho những tháng năm nao
Em sẽ dắt em lên hái những vì sao
Mà em thích nhất.
Em ơi em! Khi anh nhìn vào đôi mắt
Đôi mắt em đen tròn long lanh
Đôi mắt ấy nhìn anh
Im lặng!...
Và tiếng gió khẽ…
Và …
Nguyễn Chính
ĐHNN I – 12/4/1976



18 - 11
Bước vào tuổi hai mươi
(Tuổi đẹp nhất của thì con gái)
Mười chín năm rồi - Biển lặng - Lớn lên.
Em sinh ngày đất nước vẫn chia hai
Giữa Trường Sơn Ba mở đường bí mật
Đêm rừng sâu Ba thường thao thức
Đặt tên con mình.
Ba cứ muốn em là con trai
(Người lính chiến nào mà chẳng vậy).
Bởi Ba thích nên em giống Ba quá đấy
Từ khuôn mặt, dáng người đến tính nết của Ba.
Nhưng vì tóc dài nên em là: Hương
Thoảng mùi thơm đầu mùa trái ngọt.
Mười chín năm rồi có ai còn nhắc
Năm tháng tuổi thơ - Cô bé nghịch ngầm -

Anh đến bên em
Khi Nàng Bân xin cha mình cho mùa Đông trở lại.
Anh biết:
Ngọn lửa thắp từ bàn tay cô gái
Sẽ nồng nàn ấm mãi những ngày đông.
Tuổi hai mươi, Hương ơi!Em lớn lên rồi.
Đất nước Hòa bình: Con đường rộng mở.
Cho em đi những bước ban đầu.
Dù gian khổ, dài lâu.
Cô bé của anh sợ gì vất vả
Thời gian đang gọi tên em - giục giã -
Mong em từng giờ từng phút lớn lên
 


Nguyễn Chính - 11/1976


Mái tóc dài của anh



Buổi đầu mới biết em
Anh thích nhìn mái tóc
Rất dài và rất đẹp
Từng sợi mềm bay bay.

Khi được nâng mái tóc
Dưới mênh mông sao trời…
Ánh mắt nhìn thăm thẳm
Khuất sau làn tóc em.

Muốn được làm chiếc lược
Sáng, sáng em gội đầu
Âu yếm từng sợi nhỏ
Cho mịn màng như tơ.

Muốn được làm ngọn sả
Thơm trong nước gội đầu
Lợp vào trong mái tóc
Hương dịu dàng đắm say.

Thương lắm từng sợi nhỏ
Cứ vương vào thời gian
Ước mình có phép lạ
Giữ mãi xanh tóc nàng.

Má cho em mái tóc
Trong gian khó nhọc nhằn
Thơm trong từng giọt sữa
Là nghĩa tình mênh mông.

Mái tóc dài của em
Sẽ đẹp từng năm tháng
Dẫu gội vào mưa nắng
Vẫn xanh hoài trong anh

 

Nguyễn Chính - 3/1977


Những ngày ở sông Đuống
 

...Hương yêu! bài thơ – Đấy lại thơ – sau đây anh vừa là em, lại vừa là anh (em cứ cho phép anh được là cô bé ấy nhé), tuy nhiên, về phía em, em có quyền gạc và sửa “những câu, những đoạn” không thật đúng “ngôn ngữ”của mình.

Khi em mong thì nỗi nhớ mênh mang
Gọi về bao kỷ niệm
Và những điều thầm kín
Chưa nói được cùng anh

Mỗi sáng dậy bâng khuâng
Em nhìn về phía ấy
Chỉ thấy mây bồng bềnh,
Phủ đầy rừng núi.

Mỗi buổi chiều hoàng hôn
Em đi trong chờ đợi
Mỗi lần nghe gió thổi
Tưởng anh khẽ gọi tên mình

Và mỗi đêm trằn trọc
Em nhìn về tương lai
Tiếng gọi của đời cứ ngân trong em mãi
Như vọng về từ một nơi xa xôi.

Có bao giờ anh thấy mình vui?
Khi mùa xuân trên môi em nở rộ
Cứ “lầm lì” tính em thường thế đó
Hỡi anh chàng “ngốc nghếch” của em

Tiếng gõ cửa cũng trở thành tiếng gọi
Ánh mắt nhìn cũng trở thành giọng nói
Kỳ lạ thay ngôn ngữ của chúng mình
Chẳng ai mà hiểu nổ.i

***

Ngôn ngữ ấy bắt đầu từ chữ A
Và bắt đầu từ con số 1
Chữ đầu tiên và con số đầu tiên
Như tình yêu của em kết thành sự thật.

Từ vần A anh tìm ra vần H
Con sông Hương dịu mát của miền Nam
Nhớ đêm hành quân mắc võng dưới hương tràm
Ngây ngất sống giữa mùa hoa nở.

Đoạn kết anh chưa chép vào vì anh thấy chưa đạt, còn đề thì anh chịu không biết nên lấy là gì. Theo anh không cần đề hay mà chỉ cần đề đúng.
- Hợp tính nhau đó là điều vô cúng hạnh phúc -

 

Hè năm 1976 - Nguyễn Chính


Đến bây giờ chắc anh đã quên đoạn kết của bài thơ, tên của bài thơ cũng chưa được đặt. Nhưng cuộc sống thì vẫn cứ bộn bề, hối hả. Và đặc biệt là đã gần 40 năm rồi mà hình như họ vẫn không hợp được tính nhau. Tuy vậy cái viển vông lãng đãng trong một góc nhỏ tâm hồn của họ thì lại có nhiều nét đồng cảm lạ. Có lẽ vì vậy mà họ đã cùng nhau đi một đoạn đường khá dài, đầy trắc trở... và đang dần đến đích. Cầu mong cho một chút lãng đãng ngàn vàng ấy sẽ vẫn là điểm tựa để họ cùng nhau đi đến trọn đời.

- MH -

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

Làm sao
                        Nhân đọc bài thơ “Lỡ” của Nguyễn Chính

Tình yêu em dấu* được ai?
Anh vô tình chẳng đoái hoài đấy thôi!
Đã từng nhung nhớ khôn nguôi
Đã từng trông đứng trông ngồi vu vơ…
Để rồi ngày ấy hững hờ
Em đành nhắm mắt xuống đò sang ngang
Chôn sâu xuống tận đáy lòng
Niềm riêng sao nỡ xếp cùng niềm chung?
Tưởng rằng có thể dửng dưng
Nào ngờ gặp lại nửa mừng, nửa đau!
Làm sao bắc lại được cầu?*
Làm sao hò hẹn mai sau* hỡi Người!?
Ngậm lòng cứ giả vờ thôi
Bồ hòn làm ngọt… một thời ngu ngơ!

                             Nha Trang – 1996

* Những từ ý có trong bài “Lỡ”:
Tình yêu em dấu trong em
Mà anh thì cứ đi tìm đâu đâu…
… Hay là lại ốm tương tư
Lại hờn dỗi, lại hẹn hò mai sau
Sang em anh bắc lại cầu



CÂY  KHẾ  VƯỜN  XƯA


                                                        Truyện ngắn của Minh Hương 


          Gần tám giờ tối mà con gái chị đi đâu chưa về. Mâm cơm đã nguội lạnh. Không hiểu sao, chị thấy lòng dạ cồn cào. Cảm giác mơ hồ như sắp mất một cái gì đó khiến chị bồn chồn. Chị nhìn lung mung ra ngoài cửa sổ. Trăng sáng lạ lùng. Bóng cây khế im lìm bất động, tán xum xuê. Nếu không bị bom phạt ngang ngọn, chắc giờ nó phải cao lắm. Chị lại nhớ đến chồng và lời hẹn của anh. Chị tắt đèn, đến bên cửa sổ, ánh trăng lùa vào phòng mát lạnh. Áp nhẹ mặt vào giữa hai chấn song, chị nhìn vượt lên ngọn khế, thả mắt vào không trung tĩnh mịch…
          Cây khế kia trong mắt mọi người chỉ là vật vô tri vô giác, thế mà như định mệnh, nó đã trở thành điểm tựa tâm linh của hai người đàn bà. Ngày xưa, hồi bố mẹ chồng mới cưới nhau, ông trồng cây khế để nhắc lại kỷ niệm của hai người. Dưới gốc khế trong vườn nhà bà, họ đã từng chuyện trò rồi nên vợ nên chồng. Vì kế sinh nhai, ông phải đi làm xa, để lại người vợ trẻ cùng đứa con trai đầu lòng vừa một tuổi. Ông chỉ cây khế mới ngang tầm mắt nói: “Khi nào cây khế bói quả, tôi về”. Hai năm sau, cây khế ra hoa. Bà thắc thỏm chờ đợi. Hoa khế rụng dần, chỉ đậu lại hai quả. Bà không hái, để chín rục rụng xuống gốc. Đúng lúc ấy ông về. Đau xót thay, đó chỉ là xác của ông. Người cùng làm ăn với ông nơi rừng thiêng nước độc đưa ông về cho biết: Ông bị cảm hàn, ra đi đột ngột … Số tiền ông dành dụm được trong hai năm, đủ để sau này bà dựng lại ngôi nhà nhỏ cho con trai lấy vợ. Người con trai của ông bà sớm giỏi giang mọi việc. Học hết cấp hai, anh ở nhà lo việc ruộng đồng giúp mẹ. Tiếng sáo của anh vào những buổi trưa hè, trong những đêm trăng làm mê lòng nhiều cô gái làng. Riêng anh chỉ để mắt đến chị. Đám cưới của hai người được tổ chức đơn giản, vội vã như bao đám cưới thời chiến khác. Anh lên đường nhập ngũ cùng lời hẹn với người vợ mới cưới: “Chừng nào cây khế còn xanh, anh còn sống trở về…” Lúc ấy, mẹ chồng chị quay mặt đi, dấu vội giọt nước mắt. Bà nghĩ: “Lẽ nào, như mười tám năm trước, cây khế lại là tâm điểm cho một lời hẹn, sẽ lại là sợi dây vô hình buộc số phận của con dâu bà như đã từng ràng buộc số phận cả đời bà” …
          Chiến tranh chấm dứt, mẹ chồng chị thở phào. Thế là con trai bà, ơn trời đã tránh được hòn tên mũi đạn, nó sắp về … Nhưng bà đã không còn được gặp mặt con trai lần cuối. Khi hấp hối, bà nói với người con dâu hiếu thảo: “Hết bom đạn rồi, cây khế còn xanh, chồng con sắp về …”. Với niềm tin như thế, mẹ chồng chị đã sống chờ đợi và yên lòng nhắm mắt xuôi tay. Còn chị, mười hai năm chị nhẩm đếm từng ngày, việc nhà cửa, ruộng vườn một tay chị lo liệu, chỉ mong anh còn sống trở về. Nghe tin ngừng chiến, chị phủ phục dưới gốc khế, lặng đi trong niềm sung sướng tột đỉnh. Ôm chặt con gái vào lòng, chị nói với nó: “Bố con sắp về …” . Bởi vậy chị tái tê sửng sốt trước giấy báo tử của chồng, anh hi sinh trước ngày miền nam giải phóng một tháng. Đau đớn, hẫng hụt làm chị suy sụp tưởng không thể vực dậy được. Chị cứ thẫn thờ khắc khoải với lời hẹn của chồng. Biết bao lần chị đã nhìn lên ngọn khế xanh ngắt kia thầm gọi tên anh và trong khoảng không tĩnh mịch đó, hình ảnh thân yêu của anh lại ùa về vẹn nguyên như ngày nào chị ngồi nghe anh thổi sáo dưới gốc cây này.
          Cho đến ngày, cha con ông thầy lang Thành chuyển về đây sinh sống, chị hình như ít hoài niệm về lời hẹn của chồng. Có những điều bất ngờ vừa như vô hình lại vừa hiện hữu, khiến chị phải phân tâm. Ông Thành tàn tật, dị hình đối với chị thật xa lạ. Vậy mà có những lúc chị giật mình bởi ánh mắt quá đỗi gần gũi thân quen của ông. Thỉnh thoảng ông Thành lại bị lên cơn do di chứng của vết thương ở đầu. Những lúc ấy, người ta nghe tiếng ông la hét, cùng những lời của trận mạc: “Bắn! Nhắm trúng đích mà bắn! Bom nổ. Nằm xuống!…, người ta còn nghe cả những tiếng gào thét của ông: “Hãy để tôi chết, tôi chết…”. Lần đầu, cả xóm đến để cấp cứu, sau thì họ quen dần. Có gì đâu mà phải cấp cứu. Với tấm thân tàn tạ, nhỏ nhoi, chân tay thiếu hụt thế kia, ông còn chạy đi đâu, đập phá được gì? Những lúc ấy, cậu con trai chỉ cần ngồi ôm chặt lấy ông, để ông dãy dụa một hồi rồi lịm đi. Riêng chị, lần nào cũng vậy, nghe tiếng hét của ông là chị chạy sang, chứng kiến cơn vật vã của ông. Ít nhất chị cũng làm một việc như vắt khăn lau mặt cho ông, để rồi mỗi lần ông tỉnh, chị lại giật mình bởi ánh mắt thôi miên của ông. Ánh mắt lúc bình thường không bao giờ ông nhìn chị như vậy.
          Một  lần chị ốm liệt gường, ông đích thân đến tận nhà bắt mạch cho chị. Ngồi trên xe lăn do con trai đẩy tới, ông còn mang theo chiếc nạng gỗ. Ra hiệu cho chị cứ nằm nghỉ, ông chống nạng đến trước bàn thờ mẹ chồng và chồng chị. Con gái của chị đốt nén hương đưa cho ông. Một tay ông run run nâng nén hương ngang mặt, miệng lâm râm điều gì không ai nghe được, chỉ thấy phía vai bị mất một cánh tay của ông lệch hẳn xuống rung rung. Lúc sau, ông quay lại phía chị, nhìn ra sau vườn, mắt bỗng dừng lại nơi cây khế… Chị lướt nhìn ông. Một bộ mặt kinh dị, nhăn nheo những vết sẹo kéo đến cả hai vành tai. Cánh tay trái cụt sát nách buông thõng tay áo bộ đội bạc màu. Nửa ống chân phải bị cụt được thay chân giả xỏ cẩn thận trong chiếc dầy ba-ta đã mòn vẹt gót… Chị cố tưởng tượng lại dáng vóc của một thời trai trẻ, nhưng không thể được, tất cả điều đã méo mó, dị dạng đến kinh người. Ông vẫn mải mê nghĩ ngợi điều gì đó, mắt không rời cây khế. Lòng chị trào lên một cảm xúc vừa xót thương, vừa thán phục. Không kìm được, nước mắt chị tuôn rơi. Nghe tiếng thổn thức, ông giật mình dứt khỏi luồng suy nghĩ. Hình như hiểu nỗi niềm của chị, ông nhỏ nhẹ: “Bình tâm lại, để tôi bắt mạch”. Những ngón tay của ông đặt lên cổ tay chị. Như có dòng điện chạy khắp người, chị rùng mình, mắt nhắm nghiền. Ông thở dài: “Suy nhược cơ thể, thần kinh bất an, cần phải dưỡng sức …”. Chị cố nghe thật rõ từng âm điệu phát ra từ giọng nói của ông như muốn tìm một cái gì đó quen thuộc, nhưng không thể. Vành môi bị sẹo kéo lệch một bên làm giọng nói của ông bị đơ như người thụt lưỡi …
          Ông về rồi, chị thấy buâng khuâng, người nhẹ hẳn. Bà con ở đây thường nói: “Thầy Thành tuy tàn tật mà bốc thuốc mát tay lắm. Từ người già đến con trẻ, hễ được thầy chữa trị đều mau khỏi bệnh”. Sau lần ấy, chị có khoẻ hơn, thỉnh thoảng ông lại gửi thuốc sang cho chị. Những lúc ấy chị bần thần nghĩ ngợi. Thực ra cha con ông về làng tính đã gần bốn năm nhưng chị ít khi trò chuyện với họ, hoạ hoằn lắm mới hỏi thăm vài lời sau mỗi lần ông lên cơn. Vậy mà không hiểu sao hôm ấy chị đã kể ông nghe chuyện cây khế cùng ước vọng của  mình: “Giá gì nhà em còn sống trở về …”. Chị không ngờ đã vô tình chạm vào nỗi đau của ông: “Trở về mà tuyệt tự, tàn tật  như tôi chỉ làm mọi người thêm đau lòng. Nếu không vì danh dự một người lính, tôi đã tự sát ngay sau khi ra khỏi trạm quân y…”. Chị thấy đắng ngắt ngay đầu lưỡi, lòng nghẹn tắc, chị không giám nói tiếp với ông điều mà đã có lúc chị nghĩ: “Anh ấy trở về, dù có tàn tật thế nào mình cũng cam lòng”.
          Đèn bật sáng, con gái chị về, nó ăn qua quýt bát cơm, tắm rửa rồi lên giường ôm choàng lấy chị. Nó thủ thỉ: “Mẹ đợi con lâu lắm phải không? Bác Thành ốm nặng, con ở bên ấy suốt chiều nay. Bác cứ giữ con ngồi nói chuyện với bác, lại hỏi con nhiều điều. Bác mừng vì con và Kiên yêu nhau. Bác nói, anh Kiên không phải là con đẻ của bác. Cả nhà anh Kiên bị bom chết chỉ còn anh ấy với ông nội. Bác Thành được ông nội Kiên truyền nghề bốc thuốc gia truyền. Khi ông nội mất, bác mới đưa anh Kiên về đây … bác mời mẹ mai sang bên ấy để chính thức nói chuyện của chúng con, bác mong mẹ thông cảm chấp thuận vì bác mệt không thể qua nhà mình được”.
          Con gái chị vô tư, nói chuyện một mạch rồi nó ngủ thiếp đi. Từ lúc nghe nó nói ông Thành ốm nặng, Kiên không phải con đẻ của ông, trong đầu chị không thể cưỡng lại ý nghĩ đang mỗi lúc một rõ nét. Chị nhớ lại lần ấy, khi nghe kể đến lời hẹn của chồng chị, nét mặt ông thật đau khổ, giọng ông run run, ngắt quãng: “Tôi nghĩ, đó chỉ là lời hẹn của tuổi trẻ, không lường hết được sự tàn khốc của chiến tranh. Cô Lệ còn trẻ, hãy nhìn vào thực tế, đừng trói buộc đời mình chỉ vì một lời hẹn quá huyền thoại như vậy. Đối với người lính chúng tôi, lời hẹn trước lúc ra chiến trường thực sự có một sức mạnh tiềm ẩn giúp chúng tôi vượt qua khó khăn, bom đạn… Nhưng cũng từ chiến trường ác liệt, với chết chóc thương vong, chúng tôi càng thấm hiểu sự chờ mong vô giá của những người thân nơi quê nhà bởi lời hẹn ấy. Trong chiến tranh tất cả mọi cái đều có thể…”. Đúng! Trong chiến tranh mọi cái điều có thể xảy ra. Vì vậy, đã có lúc chị nghĩ: Biết đâu chồng chị cũng là một trong những trường hợp báo tử nhầm ? Nhưng thời gian đã làm tắt dần hi vọng mong manh đó, bởi đã gần mười năm hòa bình anh nào có trở về. Thế mà giờ đây… Chị thiếp dần đi chập chờn trong nỗi ngờ vực và hy vọng. Chợt chị choàng tỉnh, nghe như có tiếng gọi tên mình, chị lay mạnh con gái: “Có đúng Kiên không phải con của bác Thành không? Có phải bác Thành mời mẹ sang bên ấy?”, Con gái chị vẫn còn mơ ngủ. Chị lao xuống gường lẩm bẩm: “Đúng rồi, có tiếng gọi mình”…  Mở cửa, chị chạy vụt ra ngoài. Trăng đã chệch hẳn về phía cuối trời nhưng vẫn sáng vằng vặc, soi rõ bóng chị băng băng qua thửa ruộng vừa mới gặt. Chẳng còn biết có trăm ngàn gốc rạ đâm ngược lên gan bàn chân, chị lao đi, gió bên tai thổi ù ù. Phía bờ sông là ngôi nhà của cha con ông Thành, đèn vẫn sáng, chị đẩy tung cửa và kịp nghe:
- Lệ! Lệ ơi! Em ơi! Con gái của…
Chị nhào tới bên gường.
- Anh Thiện! Anh Thiện ơi!…
          Búi tóc chị xổ tung phủ đầy khuôn ngực gầy lép của anh, chị vùi mặt mình vào mặt anh. Tấm thân lạnh lẽo của anh làm chị bàng hoàng, buốt nhói trong tim. Chị áp tai vào ngực anh, nơi ấy chỉ còn nghe những tiếng đập quá thưa thớt, khẽ khàng. Chị cuống quýt, nước mắt đầm đìa.
- Không thể như thế! Không thể ... Trời ơi! Có lẽ nào…?
Anh cố nhấc bàn tay còn lại đặt lên đầu chị, nhè nhẹ thả trôi theo mái tóc dài như cử chỉ vuốt ve âu yếm ngày nào, miệng mấy máy.
- Trời còn thương… Nếu em không đến kịp… Chúng mình sẽ… Không được … Nhìn nhau… Lần  cuối…
- Anh! Anh ơi! Còn con gái của chúng ta…
Vừa lúc con gái chị ùa vào.
- Mẹ ơi! Thế là thế nào…?
- Con ơi! Bố Thiện của con đây. Ông đã trở về đây…
Chị nấc lên, ngất lim.
Bố, Bố ơi! Mẹ ơi! Trời ơi!…
        Ông Thành vẫy tay yếu ớt ra hiệu cho Kiên cầm quyển sổ tay đã sờn góc và hộp nữ trang đến bên cạnh. Ông níu tay con gái đặt chồng lên tay Kiên đang cầm những kỷ vật.
         Đây là … tất cả… những gì… bố còn… để lại… cho… con…
         Đám tang ông thầy lang Thành được cả làng đưa tiễn. Ngày ấy cách đây đã tròn mười năm, chị bây giờ vẫn là một quả phụ đang vào tuổi năm mươi. Từ dạo ấy, cây khế sau vườn trút hết lá như thể đã làm tròn sứ mạng cho một lời hẹn ước. Giờ đây, nó chỉ còn là thân cây trơ trụi, dầu dãi nắng mưa để minh chứng cho một tình yêu bất tử.
                                         Nha Trang
                                                           10-11-1996